VỢ CHỒNG A PHỦ
(Tô Hoài)
I/.TÌM HIỂU CHUNG:
1/. Tác giả:
- Tô Hoài (1920 – 2014).
- Quê: Hà Nội.
- Sinh ra trong một gia đình làm nghề thủ công. Thời trẻ đã phải lăn lộn kiếm sống bằng nhiều nghề.
- Ông có vốn hiểu biết phong phú, sâu sắc về phong tục, tập quán của nhiều vùng khác nhau trên đất nước ta. Ông cũng là nhà văn luôn hấp dẫn người đọc bởi lối trần thuật hóm hỉnh, sinh động của người từng trải, vốn từ vựng giàu có nhiều khi rất bình dân và thông tục, nhưng nhờ cách sử dụng đắc địa và tài ba nên có sức lôi cuốn, lay động người đọc.
2/. Tác phẩm:
a/. Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác:
- Vợ chồng A Phủ (1952) in trong tập truyện Tây Bắc.
- Hoàn cảnh sáng tác: Tác phẩm là kết quả chuyến đi thực tế của Tô Hoài cùng bộ đội vào giải phòng Tây Bắc. 8 tháng sống và gắn bó với đồng bào các dân tộc miền núi, đã để lại những kỉ niệm sâu sắc cho nhà văn và tạo cảm hứng cho ông sáng tác thành công tác phẩm này.
- Đoạn trích thuộc phần đầu của tác phẩm kể về cuộc đời của Mị và A Phủ lúc còn ở Hồng Ngài.
b/. Bố cục:
Phần 1: Từ đầu ….. vỡ đầu.
Phần 2: Nửa đêm qua …… Hồng Ngài.
Phần 3: Còn lại.
c/. Chủ đề:
Tố cáo tội ác của bọn thực dân và bọn chúa đất phong kiến miền núi. Thể hiện sự đồng cảm với cuộc sống cơ cực, tối tâm của đồng bào miền núi. Đồng thời trân trọng khát vọng tự do, hạnh phúc của họ.
d/. Tóm tắt tác phẩm:
Truyện kể về cuộc đời của Mị và A Phủ, hai con người cùng khổ vùng núi cao Tây Bắc. Mị một cô gái Mông bị bắt về làm dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra. Từ khi bị bắt làm dâu gạt nợ, suốt mấy tháng liền đêm nào Mị cũng khóc. Mị về nhà thăm cha và ăn lá nón tự tử nhưng thấy bố van khóc Mị đã không đành lòng. Mị trở lại nhà thống lí Pá Tra. Từ đó, Mị sống trong câm lặng như con rùa nuôi ở xó cửa. Khi mùa xuân đến, tiếng sáo gọi bạn tình đã đánh thức sự sống trong Mị. Mị lén uống rượu, quấn lại tóc, với lấy chiếc váy hoa trên vách chuẩn bị đi chơi xuân nhưng bị A Sử bắt trói vào cột nhà mãi đến khi hắn bị A Phủ đánh, Mị mới được cởi trói vào rừng hái thuốc. A Phủ một chàng trai khỏe mạnh, mồ côi. Vì đánh A Sử con quan, A Phủ bị bắt ở trừ nợ. Khi bị mất một con bò, A Phủ bị trói chờ chết. Một đêm mùa đông, khi thức dậy sưởi lửa, Mị nhìn thấy A phủ khóc, Mị cảm thương cho A Phủ, nghĩ đến số phận mình, cô cắt dây trói cho A Phủ. Hai người trốn khỏi Hồng Ngài đến Phiềng Sa. Hai người kết làm vợ chồng và tham gia du kích kháng chiến.
II/. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN:
1/. Nhân vật Mị:
a/. Cách xuất hiện của nhân vật:
+ Mị xuất hiện thật lẻ loi, âm thầm gần như lẫn vào các vật vô tri: cái quay sợi, tảng đá tàu ngựa trái hẳn với khung cảnh đông đúc, tấp nập cùa gia đình thống lí Pá Tra.
+ Vẻ bên ngoài của Mị đặt trong sự đối lập với hoàn cảnh sống: Mị là con dâu, sống ở nhà thống lý Pá Tra giàu có, thế lực nhất vùng "nhiều nương, nhiều bạc, nhiều thuốc phiện nhất làng" mà sao lúc nào "cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi"?
àCách xuất hiện của nhân vật gây ấn tượng người đọc về số phận, tính cách nhân vật.
b/. Số phận thống khổ của Mị:
- Trước khi về làm dâu nhà thống lí Pá Tra
- Mị sinh ra trong một gia đình nghèo. Cha mẹ Mị vay tiền nhà thống lí để cưới nhau, đến khi cha già, mẹ chết mà vẫn chưa trả hết nợ.
- Mị lớn lên xinh đẹp "trai đến đứng nhẵn cả chân vách đầu buồng Mị", có tài "Mị thổi sáo giỏi, thổi lá cũng hay như thổi sáo"
- Mị rất hiếu thảo, giỏi giang và tự tin "con nay đã biết cuốc nương…. Đừng bán con cho nhà giàu”
- Tuy nhiên, vì món nợ truyền kiếp, Mị đã bị thống lí bắt về làm dâu gạt nợ.
- Khi về làm dâu nhà thống lí Pá Tra
- Mị bị đối xử như một nô lệ : bị bóc lột sức lao động, làm dù mọi việc "Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, xe đay đến mùa thì đi nương bẻ bắp", và dù làm viêc gì thì "lúc nào cũng gài một bó đay trong cánh tay để tước thành sợi"; Mị phải làm việc suốt ngày đêm, suốt năm , suốt đời như thế "Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó được đứng gãi chân đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày"
- Mị sống trong tăm tối, tủi nhục:
+ Mị nhiều lần bị A Sử đánh đập tàn nhẫn: bị trói đứng vào cột nhà không cho đi chơi tết , bị đập vào mặt khi xoa thuốc cho chồng , bị đánh ngã dúi vào bếp lửa. Mị trở nên câm lặng, sống âm thầm cô độc, Mị không nói , "lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa", chỉ biết tìm sự ấm áp bên bếp lửa.
+ Căn buồng Mị nằm thì "kín mít, chị có cửa sổ lỗ vuông bằng bàn tay nhin ra ngoài chỉ thấy trăng trắng không biết là sương hay nắng” như một nhà tù rùng rợn giam hãm, hủy diệt sức sống, tâm hồn Mị. Chính cái nhà ngục tinh thần này đã biến cô Mị tài hoa, xinh đẹp thành một cái xác biết đi không hơn không kém.
- Mị bị áp chế về mặt tinh thần : Mị là con dâu nhưng thực chất là con nợ. Con nợ vẫn còn hi vọng một ngày nào đó hết nợ sẽ thoát khỏi nhà thống lí. Còn Mị là con nợ nhưng lại là con dâu. Mị đã bị cúng trình ma nhà thống lí, Mị không có con đường nào khác ngoài việc kéo lê thân phận khốn khổ của mình "đợi ngày rũ xuơng ở đây thôi".
à Có thể nói những hiểu biết và sự đồng cảm của Tô Hoài đối với cuộc sống của đồng bào miền núi đã khiến các trang viết của ông thật chân thực và xúc động. Bằng những chi tiết chọn lọc nhà văn đã giúp người đọc thấu hiểu thân phận khổ đau, tủi nhục của Mị khi làm dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra. Đó cũng là số phận tủi nhục của biết người lao động miền núi trước cách mạng tháng tám.
c/. Sức sống tiềm tàng mãnh liệt của Mị
- Khi mới về làm dâu nhà thống lí:
- Mị ý thức được số kiếp làm "con trâu, con ngựa" trong nhà thống lí của mình nên "hàng tháng trời đêm nào Mị cũng khóc" - Đó là những giọt nước mắt đau đớn, tủi hận, khóc thương cho chính bản thân mình.
- Mị trốn về nhà "vĩnh biệt cha" để chết bằng lá ngón → Đây là sự phản kháng thật tiêu cực, nhưng nó là cách chống đối lại thân phận nô lệ, không chấp nhận cuộc đời mà hạnh phúc bị tước đoạt một cách tàn nhẫn của Mị.
- Nhưng vì thương cha Mị bỏ ý định tự tử và quay về nhà Thống Lí. Để rồi "ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi" cô không còn nghĩ đến cái chết. Tâm hồn chai sạn, Mị sống câm lặng trong nhà thống lí.
- Khi mùa xuân đến, khát vọng tự do, hạnh phúc trong Mị được khơi dậy mạnh mẽ:
- Khung cảnh ngày Tết "cỏ gianh vàng ửng", “những chiếc váy hoa đem ra phơi trên mỏm đá xòe như con bướm sặc sỡ", tiếng "cười ầm" của đám trẻ đợi Tết chơi quay, chơi pao trên sân chơi trước nhà, đặc biệt "Tiếng sáo rủ bạn đi chơi", lấp ló ở ngoài đầu núi đã làm cho Mị thấy "thiết tha bổi hổi", Mị ngồi "nhẩm thầm bài hát" của người đang thổi. Có lẽ cuộc sống đang bừng tĩnh trong Mị, lòng ham sống của Mị đang trỗi dậy.
- Tiếng sáo gọi bạn tình đã tác động mãnh liệt đến tâm hồn Mị, như ngọn gió thổi bừng lên ngọn lửa tưởng đã tắt lịm, tạo cho Mị có cái gan để Mị có những suy nghĩ và hành động khác thường.
+ Ngày Tết Mị cũng uống rượu. Mị "lén lấy hũ rượu, cứ uống ực từng bát". Cách uống rượu của Mị như thế cô đang uống đi bao cay đắng, tủi nhục của phần đời đã qua, uống luôn cả cái khát khao phần đời chưa tới.
+ Ngồi trong nhà thống lí những tiếng sáo gọi bạn ở đầu làng đã đánh thức kí ức thời con gái “Mị thổi sáo giỏi”, “thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm thổi sáo đi theo Mị”.
+ Mị sống dậy với tâm hồn đầy khát khao “thấy phơi phới” trở lại, Mị thấy “vui sướng như những đêm tết ngày trước”. Điều đó đã khiến Mị ý thức về mình “Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi” để nhận ra tuổi xuân của mình đang bị vùi dập, cuộc hôn nhân của mình không hạnh phúc “A Sử với Mị không có lòng mà vẫn phải ở với nhau”. Để rồi Mị lại nghĩ đến việc ăn lá ngón cho chết đi “nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa. Nhớ lại, chỉ thấy nước mắt ứa ra”.
+ Hành động "lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng” giàu sức gợi, Mị muốn thắp lên ánh sáng cho căn phòng bấy lâu chỉ là bóng tối hay Mị muốn thắp lên ánh sáng cho cuộc đời tăm tối của mình.
+ Lòng ham sống, khát vọng sống trỗi dậy mạnh mẽ trong Mị. Tiếng sáo “rập rờn” trong đầu đã thôi thúc Mị quyết tâm thực hiện ý định “Mị muốn đi chơi”, “Mị quấn lại tóc, Mị với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách” để chuẩn bị đi chơi.
- Nhưng khát vọng sống vừa hồi sinh của Mị đã bị vùi dập một cách tàn nhẫn. A Sử trói đứng Mị vào cột nhà thật dã man. A Sử chỉ có thể trói được thể xác Mị vào cột nhà, còn tâm hồn Mị “vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám chơi”. Sức mạnh bạo tàn của giai cấp thống trị làm sao có thể trói được tâm hồn Mị, một khi ý thức và khao khát hạnh phúc trỗi dậy? Nhưng âm thanh "Tiếng chân ngựa đạp vào vách” đã kéo Mị trở về với thực tại phũ phàng tay chân đang bị “dây trói siết lại, đau dứt từng mảnh thịt”. Hai âm thanh tiếng sáo và tiếng chân ngựa đạp vào vách đã tạo nên sự đối lập giữa khát vọng tự do mãnh liệt và hiện thực phũ phàng, cay đắng khiến cho nỗi đau số phận ở Mị càng thêm phần dữ dội khi cô nhận ra “… mình không bằng con ngựa”. Suốt đêm bị trói đứng, Mị lúc mê, lúc tỉnh, Mị sống trong sự giằng xẻ giữa khát khao cuộc sống tự do và thực tại nghiệt ngã cho đến khi tỉnh hẳn, Mị nhớ tới câu chuyện người đàn bà ngày trước bị trói đến chết trong nhà thống lí. Mị sợ quá, cựa quậy xem mình còn sống hay chết.
à Ngòi bút phân tích tâm lí của nhà văn thật tinh tế sâu sắc. ông len lỏi vào từng mạch vi bên trong nội tâm để miêu tả sự uyển chuyển tinh vi của tâm hồn Mị. Người đọc như đang chứng kiến từng bước sự hồi sinh trong tâm hồn Mị. Diễn biến tâm trạng của Mị cho ta thấy niềm khao khát tự do, hạnh phúc mãnh liệt của người lao động miền núi. Mặc dù bị thực tại bóp nghẹt nhưng niềm khao khát ấy vẫn tiềm tàng mạnh mẽ. để khi có cơ hội lên bùng lên mãnh liệt hơn.
- Đêm mùa đông Mị cứu A Phủ, sức phản kháng mạnh mẽ, quyết liệt:
- A Phủ một thanh niên khỏe mạnh, tài giỏi nhưng không thể lấy nổi vợ vì mồ côi cha mẹ, nhà nghèo, không có ruộng, không có bạc. Vì đánh A Sử bị thương nên bị bắt và bị phạt vạ. A Phủ không có tiền phạt vạ nên phải trợ thành nô lệ trả nợ cho nhà thống lí. A Phủ đi chăn bò, vì mải mê bẫy nhím, để hổ vồ mất một con bò mà bị cha con thống lí trói đứng vào cột đã mấy ngày đêm.
- Ban đầu, nhìn thấy A Phủ bị trói đứng vào cột, Mị “vẫn thản nhiên thổi lửa, hơ tay”, “nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi”. Có lẽ cuộc sống đau khổ làm cho cô Mị tài hoa, xinh đẹp ngày nào đã lãnh đạm, tê liệt cảm xúc, không quan tâm đến những gì xung quanh mình. Vả lại những thân phận nô lệ bị trói đứng cho đến chết trong nhà này dường như không phải mới xảy ra.
- Nhưng đêm hôm sau, khi ánh lửa vừa mới nhen lên, Mị “lé mắt trong sang” nhìn thấy “một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hỏm má đã xám đen lại” Mị nhớ lại tình cảnh mình bị trói đứng một năm về trước, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ không thể lau đi được. Mị đang xót thương thân mình. Rồi Mị thương người cùng cảnh ngộ “cơ chừng chỉ đến đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét… Người kia việc gì phải thế”. Mị nhận rõ bản chất độc ác của Pá Tra “trời ơi, nó bắt trói đứng người ta đến chết… chúng nó thật độc ác”. Mị xúc động, thương mình và thương người cùng cảnh ngộ, đồng cảm với nỗi đau của A Phủ
- Cuối cùng: Mị rón rén bước lại, “rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây”, cởi trói cho A Phủ. Rõ ràng, khi lòng thương người lớn hơn lòng thương thân người ta có thể hi sinh bản thân mình. Thế nhưng khi A Phủ đi rồi, bản năng tự vệ đến với Mị “Mị đứng lặng trong bóng tối rồi cũng vụt chạy ra”. Mị đã chạy theo A Phủ với lời giải thích đơn giản “ở đây thì chết mất” và “hai người lẳng lặng đỡ nhau lao chạy xuống dốc núi” → sự phản kháng mãnh liệt, quyết liệt, táo bạo. Cởi trói cho A Phủ, thực chất là Mị đang cởi bỏ xiềng xích đè lên trên cuộc đời của mình và hành động chạy theo A Phủ là Mị đang chạy theo tiếng gọi của cuộc sống. Tình thương, sự đồng cảm giai cấp và niềm khát khao tự do mãnh liệt… đã thôi thúc Mị có một quyết định táo bạo cắt dây trói cứu A Phủ và tự giải thoát cuộc đời mình.
à Diễn biến tâm trạng của Mị khá phức tập nhưng hợp lí. Người đọc được thuyết phục hoàn toàn trước những suy nghĩ và hành động của cô. Sức sống tiềm tàng trong tâm hồn cô đã trỗi dậy mãnh liệt. Hành động cắt đứt dây trói cho A Phủ rồi trốn theo A Phủ để tự cứu mình là hành động tất yếu của những con người luôn bị chế độ thống trị áp bức bất công. Đó cũng chính là vẻ đẹp tâm hồn, sức sống mạnh mẽ, khả năng cách mạng của người lao động Tây Bắc.
2/. Nhân vật A Phủ:
a/. Số phận:
- Mồ côi cả cha lẫn mẹ từ nhỏ → bị người làng bắt đem đổi lấy thóc → A Phủ trốn thoát, lưu lạc tới Hồng Ngài.
- Lớn lên, A Phủ trở thành chàng trai khỏe mạnh, giỏi giang “chạy nhanh như ngựa”, “biết đúc lưỡi cày, biết đục cuốc, lại cày giỏi và đi săn bò tót rất bạo”. Con giá trong làng nhiều người ao ước “Đứa nào được A Phủ cũng bằng được con trâu tốt trong nhà, chẳng mấy lúc mà giàu” 󠇋→ Vì nghèo A Phủ không sao lấy được vợ.
b/. Tính cách:
- Gan góc, không sợ cường quyền và bạo lực, dám đánh A Sử → người ở trừ nợ
- Tính tình đơn giản, không nghĩ đến hậu quả khi đánh A Sự. Khi làm người ở trừ nợ, làm phăng phăng mọi việc thống lí giao. Khi rừng đói, mải lo bẫy nhím, để hổ vồ mất bò, A Phủ điểm nhiên vác nửa con bò hổ ăn dở về, mượn súng thống lí đi bắt hổ để đền bò. Kể cả khi lấy cọc và dây mây, rồi đóng cọc để thống lí trói đứng mình, A Phủ vẫn thản nhiên.
- Tuy vậy, A Phủ cũng có ý thức phản kháng → bị thống lí trói mấy ngày đêm liền, bị bỏ đói, bỏ khát → biết mình sắp chết A Phủ khóc, những giọt nước mắt uất ức “quật sức vùng lên chạy” để thoát khỏi bàn tay của bọn chúa đất độc ác, để thoát khỏi cái chết, để được sống.
à Sở trường quan sát và khả năng nhạy bén trong việc nắm bắt cá tính con người là hai yếu tố đã giúp nhà văn chỉ với mất nét đơn sơ mà tạo dựng thành công một hình tượng đặc sắc. Phản ánh số phận đau thương của A Phủ và Mị, Tô Hoài đã tố cáo tội ác của bọn chúa đất dã man tàn bạo, đồng thời khẳng định những phẩm chất tốt đẹp của người nghèo miền núi. Sự vùng dậy của Mị và A Phủ tuy chỉ là sự vùng dậy tự phát nhưng cũng là cơ sở để sau này khi được giác ngộ cách mạng, họ đã đi theo Đảng để giải phóng cho mình và cho cả quê hương đất nước.
3/. Giá trị tác phẩm:
- Giá trị hiện thực: miêu tả chân thực số phận cực khổ của người dân nghèo, phơi bày bản chất tàn bạo của giai cấp thống trị miền núi.
- Giá trị nhân đạo: thể hiện tình yêu thương, sự đồng cảm sâu sắc với thân phận đau khổ của người dân lao động miền núi trước Cách mạng; tố cáo, lên án, phơi bày bản chất xấu xa tàn bạo của giai cấp thống trị; trân trọng và ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn, sức sống mãnh liệt và khả năng cách mạng của nhân dân Tây Bắc;…
4/ Những đặc sắc về nghệ thuật:
- Xây dựng nhân vật điển hình, đặc biệt là ở nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật:
+ Mị bề ngoài lặng lẽ, âm thầm, nhẫn nhục nhưng có đời sống nội tâm mãnh liệt.
+ A Phủ đơn giản, chất phác mà tự tin, gan góc, táo bạo, có ý thức phản kháng.
- Nghệ thuật miêu tả:
+ Tả cảnh thiên nhiên sống động với những nét đặc trưng của miền núi
+ Tả phong tục tập quán độc đáo: cướp vợ, xử kiện, đêm tình mùa xuân
- èTác phẩm mang đậm màu sắc miền núi, không khí miền núi.
- Nghệ thuật kể chuyện:
+ Chọn lựa tình huống có ý nghĩa
+ Kể theo trình tự thời gian nhưng có đan xen hồi ức; có pha trộn quá khứ với hiện tại; có vận dụng kĩ thuật của điện ảnh → truyện liền mạch, tự nhiên.
+ Ngôn ngữ văn xuôi nhưng đầy chất thơ.
III/. TỔNG KẾT:
- Tác phẩm phản ánh khá trung thực cuộc sống của những người lao động nghèo miền núi dưới ách thống trị tàn bạo của bọn chúa đất phong kiến.
- Tác phẩm thế hiện rõ sự căm ghét bọn thống trị ác độc; sự đồng cảm với số phận những người lao động nghèo, phát hiện ở họ những phẩm chất tốt đẹp và mở cho họ một hướng đi đến tương lai.
- Cách kể truyện tự nhiên, giọng văn nhẹ nhàng, tinh tế, đượm màu sắc và phong vị miền núi, giàu tính tạo hình và bàng bạc chất thơ.
----------------------------- CHÚC CÁC EM HỌC TỐT------------------------------
VỢ NHẶT
(Kim Lân)
I/.TÌM HIỂU CHUNG:
1/. Tác giả:
- Kim Lân (1920 – 2007), tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, quê ở tỉnh Bắc Ninh. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông chỉ học hết tiểu học, Kim Lân phải vào đời kiếm sống.
- Kim Lân là cây bút chuyên viết truyện ngắn. Ông thường viết về nông thôn và người nông dân. Dù viết về phong tục hay con người, trong tác phẩm của Kim Lân ta vẫn thấy thấp thoáng cuộc sống và con người của làng quê Việt Nam nghèo khổ mà vẫn yêu đời, thật thà, chất phác mà hóm hỉnh. Lối viết của ông bình dị, thiên về sự quan sát tinh tế, tôn trọng tính khách quan của hiện thực.
- Tác phẩm chính: “Nên vợ nên chồng” (tập truyện ngắn, năm 1955), “Con chó xấu xí” (tập truyện ngắn, năm 1962).
2/. Tác phẩm:
a/. Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác:
- “Vợ nhặt” là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân in trong tập “Con chó xấu xí”
- Tiền thân của truyện ngắn này là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” – được viết ngay sau CMT8 nhưng dang dở và thất lạc bản thảo. Sau hòa bình lập lại (1954), ông dựa vào một phần cốt truyện cũ để viết truyện ngắn này.
b/. Bố cục:
- Từ đầu… thành vợ thành chồng: Tràng có vợ giữa nạn đói khủng khiếp
- Ít lâu nay… cùng đẩy xe bò về: Tràng nhớ lại hoàn cảnh hai người gặp nhau.
- Tràng chợt đứng… ròng ròng: Bà cụ Tứ nhận dâu.
- Phần còn lại: Không khí ấm cùng trong gia đình Tràng sau khi anh có vợ.
c/. Chủ đề:
Qua tình cảnh thê thảm của nhân dân ta trong nạn đói năm 1945, tác giả thể hiện bản chất tốt đẹp và sức sống kỳ diệu của họ; đồng thời lên án tội ác của bọn thống trị Pháp, Nhật và tay sai đã đẩy nhân dân ta vào tình cảnh vi thảm không có lối thoát.
d/. Tóm tắt tác phẩm:
Truyện kể về anh Tràng, một người dân nghèo làm nghề kéo xe bò thuê, sống với mẹ già ở xóm nụ cư, tình cờ “nhặt” được vợ trng nạn đói khủng khiếp vào mùa xuân 1945.
Một lần, đang kéo xe bò lên dốc tỉnh, Tràng hò một câu cho đỡ mệt. Không ngờ từ câu hò ấy, anh đã quen một người phụ nữ. Lần sau gặp lại, anh không nhận ra người ấy nữa thị rách rưới tiều tụy quá, Bị cái đói hành hạ, thị đã xin Tràng cho ăn và ăn liền bốn bát bánh đúc, Sau câu nói nửa đùa nửa thật của Tràng, thị đã bằng lòng theo về làm vợ anh. Việc Tràng có vợ không chỉ gây bất ngờ cho anh, mà còn gây sự ngạc nhiên cho dân xóm ngụ cư và mẹ của anh. Bà cụ Tứ buồn vui lẫn lộn nhưng vẫn đón nhận cin dâu với tấm lòng độ lượng, bao dung, vẫn khao khát cuộc sống gia đình và hướng đến cách mạng, tin vào tương lai.
e/. Ý nghĩa nhan đề:
- Tên truyện gây cho người đọc một sự chú ý đặc biệt. Người ta thường nói nhặt được vật này vật kia chứ không ai nói “nhặt vợ” hay “nhặt chồng” vì hôn nhân là việc lớn trong đời người, phải tiến hành một cách thận trọng.
- “Vợ nhặt” phản ánh việc có được vợ một cách dễ dàng, nhanh chóng, không cưới xin theo truyền thống.
- Nhan đề cho thấy tình cảnh quá thê thảm và thân phận tủi nhục của con người. Vợ mà có thể nhặt ở bất cứ đâu, bất kì lúc nào.
- Nhan đề không chỉ tố cáo tội ác của bọn thực dân phát xít mà còn thể hiện bản chất tốt đẹp, sức sống diệu kì và niềm tin mãnh liệt của con người vào cuộc sống.
II/. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN:
1/. Nhân vật Tràng:
a/. Hoàn cảnh nhân vật:
- Tràng là một người nông dân nghèo, làm nghề “kéo xe bò thuê cho liên đoàn tỉnh”, sống với mẹ già trong một căn nhà “vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại” với “tấm phên rách” ở xóm ngụ cư.
- Ngoại hình xấu xí, ế vợ.
b/. Vẻ đẹp tình người và khát khao hạnh phúc mãnh liệt của Tràng trong nạn đói:
vTràng là người tốt bụng, cởi mở:
- Giữa cảnh tối sầm vì đói khát, sau lần tầm phơ tầm phào “hò một câu cho đỡ mệt”, thấy người đàn bà xin ăn, anh sẵn sàng đãi chị ta – người đàn bà xa lạ bốn bát bánh đúc.
- Sau một câu nói đùa “có về với tờ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về”, người đàn bà theo Tràng về làm vợ. Trước cái đói quay quắt đang diễn ra, cái sống và cái chết mong manh liền kề, với hoàn cảnh của Tràng nuôi mình và nuôi mẹ còn không xong, nay “còn tước cái của nợ đời về”, Tràng cũng đã chọn, nghĩ “thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không lại còn đèo bòng” nhưng cái tậc lưỡi “chậc kệ” thể hiện thái độ sẵn sàng chấp nhận cưu mang thêm một người nghèo khổ không so đo tính toàn của Tràng, Tấm lòng hào hiệp, giàu tình người của Tràng thật đáng quý.
- Không những thế, hôm ấy Tràng còn “bỏ tiền ra mua cho thị cái thúng con đựng vài thứ lặt vặt và ra hàng cơm đánh một bữa thật no nê” thể hiện sự trân trọng, thương yêu của Tràng đối với người vợ nhặt.
vKhát khao hạnh phúc mãnh liệt:
*Khi nhặt vợ:
- Lúc đầu, khi có ý định đưa người đàn bà xa lạ về nhà, Tràng phân vân, do dự “Thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng”
- Nhưng sau đó anh lại tặc lưỡi “chậc kệ!”, rồi đưa người “vợ nhặt” về nhà.
à Trong cảnh cùng quẫn đói khổ, cái chết đang rình rập quyết định và hành động của Tràng không chỉ thể hiện lòng thương người mà còn thể hiện niềm khát khao hạnh phúc gia đình của người nông dân nghèo khổ này.
*Trên đường đưa vợ về nhà:
- Tràng cảm nhận được niềm vui sướng hạnh phúc khi có vợ “Mặt hắn có một vè gì phớn phở khác thường. Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh”.
- Trước con mắt ngạc nhiên, tò mò, bàn tán của người dân xóm ngụ cư, người đàn bà càng thêm ngượng nghịu, còn Tràng “lại lấy vậy làm thích ý lắm, cái mặt cứ vênh vênh tự đắc với mình”.
à Kim Lân đã diễn tả vừa cụ thể, vừa sinh động niềm khao khát tổ ấm gia đình của những con người nghèo khổ. Niềm khát khao hạnh phúc đã giúp họ vượt lên tất cả, bất chấp cái đói và cái chết đang cận kề.
*Khi về đến nhà: Niềm hạnh phúc của Tràng khi có vợ, được Kim Lân diễn tả rất thực và sinh động qua nỗi chờ đợi mẹ về.
- Không biết bà cụ có hay về trễ hay không nhưng hôm nay với Tràng thì quá trễ “Sao hôm nay và lão về muộn thế không biết”. Bởi có lẽ anh đang sung sướng và muốn giải bày niềm vui với mẹ, anh đang hạnh phúc và muốn mẹ chung cùng hành phúc với anh.
- Tràng đứng ngồi không yên, lòng anh ngập tràn hạnh phúc. “Anh loanh quanh chạy ra ngõ đứng ngóng làm tôi đợi nóng cả ruột”.
*Sáng hôm sau, buổi sáng đầu tiên có vợ:
- Tràng vẫn ngỡ ngàng, chưa tin mình có vợ, cảm thấy “trong người êm ái lửng lờ như vừa ở trong giấc mơ đi ra”. Một cảm giác mới lạ chưa từng thấy tràn ngập tâm hồn Tràng.
- Tràng thực sự thấy cuộc đời mình từ đây đã thay đổi hẳn:
+ Tràng nhận thấy sự thay đổi trong ngôi nhà của mình “nhà cửa, sân vườn được quét tước, thu dọn sạch sẽ, gọn gàng”.
+ Tràng nhận thấy sự thay đổi của bản thân “thương yêu và gắn bó với cái nhà” của mình lạ lùng. Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập tâm hồn, Tràng cảm thấy mình “nên người” thấy “có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này”. Niềm hạnh phúc khi có vợ đã khiến Tràng có ý thức trách nhiệm với gia đình.
+ Tràng cảm nhận sự thay đổi của những người thân: người vợ nhặt mới hôm qua còn “chao chát chỏng lỏn” nhưng hôm nay “rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực”. Còn mẹ Tràng “nhẹ nhõm tươi tỉnh khác thường”, cái “vẻ mặt bủng beo u ám” đã “rạng rỡ hẳn lên”.
- Trong bữa ăn ngày đói “chỉ có một lùm rau chuối thái rối và một đĩa muối với cháo, nhưng cả nhà đều ăn rất ngon lành”, thậm chí ăn móm “chè khoán” nấu bằng cám thay cơm thế nhưng họ vẫn vui vẻ. Tình vợ chồng, tình mẹ con – đó là những động lực làm tăng sức mạnh vượt qua bế tắc, Họ đã tìm được niềm vui trong sự cưu mang, nương tựa nhau, quan tâm chăm sóc nhau.
- Cuối tác phẩm, “trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và là cờ đỏ bay phấp phới” hé mở một tương lai tươi sáng, niềm tin vào cảnh mạng. Qua chi tiết này, Kim Lân cho thấy giữa cái chết vẫn có một mầm sống mạnh mẽ tươi xanh. Khát vọng tình yêu, khát vọng hạnh phúc luôn tồn tại trong tâm hồn những con người nghèo khổ. Đó chình là giá trị nhân văn cao đẹp của tác phẩm.
à Sự am hiểu về tâm lí của người nông dân đã giúp nhà văn xây dựng được nhân vật Tràng thật chân thực, sinh động. Qua nhân vật, nhà văn đã cho người đọc thấy được cảnh ngộ trớ trêu của con người trong nạn đói, nhưng ở họ vẫn thể hiện vẻ đẹp giàu tình người và nhiềm khát khao hạnh phúc đời thường cháy bỏng. Điều đó đã làm nên sức sống diệu của người nông dân trong nạn đói năm 1945.
2/. Nhân vật bà cụ Tứ:
a/. Hoàn cảnh:
- Bà cụ Tứ, người phụ nữ nghèo khổ, chồng mất sớm, là dân ngụ cư, sống lay lắt trước nạn đói đang đe dọa.
- Bà sống cùng Tràng – người con trai làm nghề kéo xe bò thuê, xấu trai, ế vợ.
b/. Diễn biến tâm trạng của bà cụ Tứ khi Tràng đưa người vợ nhặt về:
- Tác phẩm đặt nhân vật vào hoàn cảnh hoàn toàn bất ngờ trước tình huống đứa con trai vào những ngày đói khủng khiếp, bỗng dưng nhặt được vợ về. Nhà văn đã theo dõi và phân tích một cách độc đáo những diễn biến tâm trạng của người mẹ nghèo.
v Bà cụ Tứ ngạc nhiên trước việc con trai có vợ:
- Khi vừa đến nhà thấy đứa con trai “reo lên như một đứa trẻ”. Bà “phấp phóng” theo con vào trong nhà, khi thấy có người đàn bà xa lạ đến nhà mình và gọi mình bằng u, bà hết sức ngạc nhiên.
- Nhà văn Kim Lân đã chọn ngôn ngữ độc thoại nội tâm để diễn tả tâm trạng ngạc nhiên của bà cụ. Bà lạo đứng sững lại, với bao nhiêu câu hỏi ùa về: “Quái sao lại có người đàn bà lạ trong nhà ấy nhỉ? Người đàn bà nào lại đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u? Không phải con cái Đục. Ai thế nhỉ?”
- Bà lão “thấy mắt mình nhoèn đi thì phải” bà nhìn kĩ lại người đàn bà nhưng bà vẫn “không hiểu”. Bà không hiểu bởi lẽ, bà hiểu rất rõ gia cảnh của mình cùng cảnh ngộ của đứa con trai trong nạn đói. Ai đến nhà bà trong hoàn cảnh này? Thế mà lại có người đàn bạ lạ hiện diện trong nhà bà, lại chào bà bằng u.
v Khi hiểu ra, bà cụ vừa tủi thân, vừa xót thương lo lắng, vừa mừng vui cho con trai và con dâu:
- Nhưng bằng sự kinh nghiệm và sự từng trải, qua thái độ rối rít như một đứa trẻ cùng với những câu phân trần, cắt nghĩa không mấy rành rẽ của con trai bà đã hiểu ra cơ sự.
- Khi hiểu ra con trai có vợ “bà cúi đầu nín lặng”. Một sự nín lặng chất chứa bao suy nghĩ “Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán xót thương cho số kiếp đứa con mình” → Bà tủi thân, xót thương và lo lắng cho con
+ Bà tủi thân bởi bà là mẹ mà bà không vun vém được hạnh phúc cho con, bà day dứt vì mình chưa làm tròn bổn phận: “chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nối… còn mình thì”
+ Bà khóc thương cho con “Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt”
+ Bà lo lắng cho cuộc sống trước mắt của con mình “Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này hay không”
- Từ chỗ xót xa cho đứa con trai bà chuyển sang thương xót cho người đàn bà. Bà thấu hiểu, xót thương cảnh ngộ của người phụ nữ xa lạ bỗng trở thành con dâu mình… Tác giả sử dụng ngôn ngữ độc thoại diễn tả thật xúc động những suy nghĩ âm thầm của người mẹ: “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ… Thôi thì bổn phận bà là mẹ, bà chẳng lo lắng được cho con… May ra mà qua khỏi cái tao đoạn này thì thằng con bà cũng có vợ, nó yên bề nó, chẳng may ra ông giời bắt chết thì cũng phải chịu chứ biết thế nào mà lo cho hết được”.
- Bà ôn tồn, nhẹ nhàng nói với nàng dâu: “Ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau u cũng mừng lòng”. Câu nói của bà làm cho ngực Tràng nhẹ hẳn đi đồng thời cũng là trả lại danh dự và giá trị cho người vợ nhặt. Có thể nói sự từng trải, trái tim nhân hậu bao dung đã giúp bà mẹ nghèo vượt qua được những định kiến hẹp hòi để đạt đến sự cảm thông lớn lao, chấp nhận con dâu và mừng hạnh phúc cho con.
- Bà cụ vẫn không hết lo lắng, từ tốn dặn dò, bảo ban nàng dâu mới những điều chí tình chí nghĩa, hướng con đến tương lai: “Nhà ta thì nghèo con ạ. Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi ra may mà ông giời cho khá… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời? Có ra thì rồi con cái chúng may về sau…”
- Ngòi bút của nhà văn thật tinh tế khi miêu tả sâu sắc tâm trạng lẫn lận buồn vui, lo lắng của bà cụ Tứ. Niềm vui của người mẹ nghèo khổ trong cảnh ngộ này thật tội nghiệp. Nó trở nên héo hắt vì không sao thoát ra khỏi nỗi ám ảnh của sự buồn tủi, xót thương. “Bà lão thở nhẹ ra một hơi dàu. Bà lão nghĩ đến ông lạo, nghĩ đến đứa con gái út. Bà lạo nghĩ đến cuộc đời cực khổ dài dằng dặc của mình. Vợ chồng chúng nó lấy nhau, cuộc đời chúng nó liệu có hơn bố mẹ trước kia không?”. Bà lão, nhìn người đàn bà, lòng đầy xót thương. Bà mong con mình: “Cốt làm sao chúng mày hòa thuận là u mừng rồi. Năm nay thì đói to đấy. Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá”. Bà nghẹn lời không nói được được nữa, nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng.
c/. Niềm vui và niềm tin vào cuộc sống:
- Sự xuất hiện của nàng dâu mới đã đem đến cho cái gia đình nghèo khổ này một không khí đầm ấm, hòa hợp chưa bao giờ có. Trong không khí ấy, bà cụ Tứ “nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên”. Cùng với nàng dâu, bà cụ “xăm xắn thu dọn, quét tước nhà cửa” cho quang quẻ, nề nếp để “cuộc đời họ có thể khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn”.
- Trong bữa cơm sáng dù chỉ có cháo loãng, ít ra chuối chấm muối và chè cám đắng chát nhưng cả nhà đầu ăn rất ngon, bà cụ “nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau”. Bà cố vui để động viên an ủi con trai, con dâu. Bà đang nhen nhóm niềm vui, niềm hi vọng cho dâu con của mình hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn. Bởi hơn ai hết bà hiểu nạn đói đang ập xuống đầu mẹ con bà “bà vội ngoảnh mặt ra ngoài. Bà lão không để cho con dâu nhìn thấy bà khóc”.
à Khắc họa nhân vật bà cụ Tứ ngòi bút của nhà văn rất tỉ mỉ, chân thực, cảm động, nghệ thuật miêu tả tâm lí tinh tế, ngôn ngữ quê kiểng mà trong sáng chọn lọc. Nhà văn đã miêu tả thành công nhân vật bà cụ Tứ với những tâm trạng khác nhau. Bà là một người mẹ nghèo, rất mực thương con, nhân hậu bao dung, có niềm tin vào tương lai hạnh phúc tươi sáng. Bà là hình ảnh tiêu biểu mang phẩm chất của người mẹ Việt Nam.
3/. Người vợ nhặt:
a/. Hoàn cảnh:
- Không có tên tuổi, lai lịch rõ ràng, lúc được gọi là thị, là cô ả, lúc là người đàn bà.
- Trước khi làm vợ Tràng, “thị ngồi vêu ra ở cửa nhà kho thóc liên đoàn” với những người phụ nữ khác để “nhặt hạt rơi, hạt vãi, hay ai có công việc gì gọi đến thì làm”
àCó biết bao nhiêu người phụ nữ cũng giống như thị: sống tha hương, vất vả trong nạn đói.
b/. Bị cái đói khủng khiếp xô đẩy, làm chị thay đổi cả ngoại hình và tính cách:
- Cái đói đã làm cho người đàn bà vợ nhặt hiện lên như một con ma đói: “áo quần tơi tả như tổ đỉa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt”.
- Cái đói đã làm cho chị thay đổi tính cách:
+ Lần đầu tiên gặp Tràng, thị còn cười nói vui vẻ “chạy ton ton” ra đẩy xe thóc cho Tràng
+ Lần gặp thứ hai Tràng không nhận ra thị nữa. Thị “chạy sầm sập” đến, đứng trước mặt anh con trai xa lạ mà xỉa xói, cong cớn, vòi ăn một cách trắng trợn “Ăn gì thì ăn chả ăn giầu”.
+ Thấy có miếng ăn “hai con mắt của thị tức thì sáng lên”, ngồi xuống, ăn thật, “cắm đầu ăn một chập bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì”. Khi ăn xong “thị cầm dọc đôi đũa quệt ngang miệng mà thở: “Hà, ngon””
- è Bị hoàn cảnh xô đẩy dẫn đến nguy cơ chết đói, thị trâng tráo, trơ trẽn, thô tục, không có sĩ diện và bất chấp lễ nghi.
- Cái đói đã làm cho chị sẵn sàng theo Tràng – một người đàn ông xa lạ, xấu trai về làm vợ. Việc chị theo không Tràng về làm vợ vừa thể hiện số phận con người rẻ rúng trong nạn đói, vừa thể hiện khát vọng sống mãnh liệt của chị. Cực chẳng đã, chị phải từ bỏ lòng tự trọng và danh dự vốn có của mình để một mực tìm chỗ dựa cho qua ngày đói.
c/. Nhưng khi theo về làm vợ Tràng, chị đã trở thành một con người khác
v Trên đường theo Tràng về nhà:
- Người đàn bà đi sau Tràng chừng ba bốn bước “đầu hơi cúi xuống…, cái nón tàng nghiêng nghiêng che khuất đi một nửa mặt,… có vẻ rón rén e thẹn”.
- Khi dân xóm ngụ cư ngạc nhiên, bàn tán, chị càng ngượng nghịu luống cuống “chân nọ díu cả vào chân kia”. Có lẽ chị đang ý thức về thân phận của mình là người “vợ nhặt”, “vợ theo”, không hề có cưới xin gì cả nên chị không tránh khỏi cảm giác ngượng ngùng, xấu hổ, tủi cho thân phận. Cái đói không hoàn toàn giết chết nét đẹp thuộc về bản chất của con người → sự tinh tế và nhân hậu của nhà văn.
v Khi về đến nhà Tràng:
- Khi nhì thấy “gia cảnh” của nhà chồng, “thị đảo mắt nhìn quanh”. Dẫu không “nén được tiếng thở dài” chua xót buồn tủi, nhưng thị cũng không chê bai, Khi vào trong nhà thị ý tứ “ngồi mớm ở mép giường”, “hai tay ôm cái thúng, mặt bần thần”. Có lẽ thị cũng đang ngượng ngùng, lo lắng, phập phồng cho thân phận của mình.
- Khi bà cụ Tứ về, thị xúc động chào và bằng “u”. trước mặt người mẹ chồng thị “cúi mặt xuống tay vân vê tà áo đã rách bợt” để rồi sau đó và cụ Tứ thấu hiểu cảnh ngộ và thương xót, chấp nhận thị là dâu
v Sáng hôm sau, chị đã trở thành người vợ đảm đang:
- Chị dậy sớm, cùng mẹ chồng dọn dẹp thu xếp lại nhà cửa cho quang quẻ “nhà cửa, sân vườn được quát tước, thu dọn sạch sẽ, gọn gàng” → thái độ sống không muốn tạm bợ, muốn đàng hoàng.
- Người đàn bà trở nên “hiền hậu đúng mực không có vẻ gì chao chát, chỏng lỏn như mấy lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh”. → Chính tình thương, lòng nhân ái của mẹ con bà cụ Tứ đã làm cho chị thay đổi như vậy.
- Chị tỏ ra tinh tế trong cách ứng xử trong bữa cơm ngày đói. Nhìn thấy món chè khoán ngon đáo đẻ của mẹ chồng là cháo cám “mắt thị tối lại” nhưng biết đấy là tấm lòng của người mẹ nên chị “điềm nhiên và vào miệng”.
- Chị còn là người rỏ ra hiểu biết. Trong bữa cơm ấy chị đã kể cho mọi người nghe về chuyện “người ta không chịu đóng thuế nữa mà đi phá kho thóc Nhật chia cho người đói”. Câu chuyện ấy đã gợi ra trong đầu Tràng cảnh “đoàn người đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp và lá cờ đỏ bay phấp phới”, hướng về một tương lai tươi sáng.
à Nghệ thuật khắc họa nhân vật người vợ nhặt rất điêu luyện, công phu. Nhà văn không chỉ tập trung miêu tả tâm lí nhân vật mà còn miêu tả tỉ mỉ, cụ thể hành động, cử chỉ, nét mặt của nhân vật. Người vợ nhặt là hình tượng tiêu biểu cho số phận bi thảm của người nông dân trong nạn đói 1945. Cho dù đứng chênh vênh trong ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết thì con người vẫn luôn có khát vọng sống mãnh liệt, vẫ thể hiện được tình người cao đẹp.
4/. Nghệ thuật đặc sắc:
- Tình huống truyện: độc đáo hấp dẫn, éo le, vui buồn lẫn lộn được thể hiện ngay nhan đề tác phẩm.
+ Tình huống đầy bất ngờ: Tràng là một nông dân nghèo, dân ngụ cư, xấu xí, ế vợ. Trong lúc nạn đói đang diễn ra khủng khiếp: người chết “như ngả rạ”, người sống “xanh xám”, “dật dờ đi lại như bóng ma”, “không khí vấn lên mùi ẩm thối của rác ruổi và mùi gây của xác người” Tràng lại bỗng nhặt được vợ một cách dễ dàng chỉ nhờ bốn bát bánh đức và một câu nói đùa.
+ Tình huống Tràng nhặt được vợ trong nạn đói đã gây sự ngạc nhiên cho nhiều người: dân xóm ngụ cư, mẹ Tràng và ngay cả Tràng.
+ Tình huống truyện éo le, vui buồn lẫn lộn. Buồn vì giữa lúc cái chết đang rình rập, Tràng nuôi thân, nuôi mẹ còn không xong lại dắt theo một miệng ăn nữa thì thật là nan giải; vui vì Tràng xấu xí, ế vợ lại lấy được vợ quả là may mắn.
à Tình huống éo le này là đầu mối cho sự phát triển của truyện, tác động đến diễn biến tâm trạng và hành động của các nhân vật. Qua đó, tác giả thể hiện được chủ đề của tác phẩm.
- Cách kể chuyện tự nhiên hấp dẫn, cách dựng cảnh sinh động, có nhiều chi tiết đặc sắc.
- Nhân vật được khắc họa sinh động, đối thoại hấp dẫn, ấn tượng, nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sắc sảo, tinh tế.
- Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị nhưng chắt lọc và giàu sức gợi cảm.
III/. TỔNG KẾT:
- Truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân không chỉ miêu tả tình cảnh thê thảm của người ngông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 mà còn thể hiện được bản chất tốt đẹp và sức sống kì diệu của họ: ngay trên bờ vự thẳm của cái chết, họ vẫn hướng về sự sống, khát khao tổ ấm gia đình và thương yêu đùm bọc lẫn nhau.
- Nội dung nhân đạo và sâu sắc và cảm động đó được thể hiện qua một tình huống truyện độc đáo, cách kể chuyện hấp dẫn, miêu tả tâm lí tinh tế, dựng đối thoại sinh động.
----------------------------- CHÚC CÁC EM HỌC TỐT------------------------------